Home Điểm nhấn Bình giảng về tám thi kệ chuyển tâm
Bình giảng về tám thi kệ chuyển tâm

Bình giảng về tám thi kệ chuyển tâm

0
0

Phát triển tâm Bồ đề là cốt tủy của giáo pháp Phật giáo và là đường tu chính yếu. Một khi phát triển tâm Bồ đề diễn tiến, hành giả phải nỗ lực thực hành nguyên tắc tâm vị tha độ lượng suốt đời mình. Điều này dẫn đến khái niệm mà chúng ta thường biết đến là “Lý tưởng Bồ tát” bao gồm cả “Sáu hạnh toàn hảo”: thí, giới, nhẫn, tấn, định và tuệ.

Tôi muốn nhấn mạnh sự thực hành lòng từ ái là tâm điểm của toàn bộ đường tu. Tất cả các pháp hành khác sẽ là các pháp tu dự bị hoặc là nền tảng để tu tâm từ ái hoặc là những thực hành đi sau pháp hành cốt lõi này. Tôi cũng muốn chỉ ra ở đây rằng có một sự nhất trí chung giữa các tông phái Phật giáo,cả Đại thừa và các tông phái không phải Đại thừa, về điểm này. Như vậy, lòng từ ái nằm ở cội rễ của tất cả các giáo pháp của Đức Phật, nhưng chỉ bên trong lý tưởng Bồ tát chúng ta mới có thể tìm thấy sự chú trọng đặc biệt về phát triển phối hợp của tâm từ ái qua việc tu dưỡng tâm Bồ đề.

TÁM THI KỆ CHUYỂN TÂM

Ý nguyện thành tựu lợi tối thắng
Với con, tất cả loài hữu tình
Còn hơn cả Bảo Châu Như Ý
Nguyện thường luôn giữ gìn lòng ái trọng.

Trong bài kệ này, quý vị phát nguyện xem tất cả chúng hữu tình vô cùng trân quý bởi vì họ chính là nền tảng giúp quý vị thành tựu mục đích cao cả nhất, tức là mang lại lợi ích cho hết thảy chúng sinh. Mục tiêu này còn siêu vượt cả viên ngọc như ý kỳ diệu, vì rằng ngọc như ý tuy rất mực quý hiếm nhưng nó không thể mang lại sự chứng đắc tâm linh tối thượng. Ở đây cũng có đề cập đến lòng từ bi của chúng hữu tình. Chính nhờ chúng hữu tình mà quý vị có thể phát triển tâm đại bi, nguyên tắc tâm linh cao cả nhất, và cũng nhờ chúng hữu tình mà quý vị có thể phát triển tâm Bồ đề, tâm nguyện vị tha. Như vậy nương vào căn bản đối đãi của quý vị với người khác mà quý vị có thể thành tựu những chứng ngộ tâm linh tối thượng. Trên quan điểm này, lòng từ bi của chúng sinh mẹ rất sâu sắc.

Khi trưởng dưỡng tâm niệm luôn gìn giữ chúng sinh vô cùng trân quý, điều quan trọng phải hiểu được là quý vị không nuôi dưỡng loại tình cảm thương hại mà đôi khi chúng ta hay dành cho những người kém may mắn hơn mình. Với lòng thương hại, quý vị sẽ có khuynh hướng xem thường đối tượng của lòng từvà có chút cảm giác xem mình cao hơn người khác. Giữ gìn trân quý tha nhân thật ra có ý nghĩa ngược lại với điều trên. Trong pháp hành này, khi nhận thấy lòng từ ái của người đối với mình và hiểu sự cần thiết của họ ra sao trên con đường tu tập tâm linh, chúng ta trân quý tầm quan trọng lớn lao và ảnh hưởng của họ, và vì thế, trong tâm trí ta sẽ mặc nhiên xem họ ở địa vị cao hơn mình. Vì suy tư về chúng sinh theo hướng như vậy, quý vị sẽ luôn luôn giữ gìn, kính quý và yêu thương họ. Thế nên, khổ thơ thứ hai viết:

Khi kết thân với bất kỳ ai
Xem chính con thấp hơn tất cả
Tận đáy lòng xin tôn kính người
Nguyện hành trì tôn kính thương yêu.

Khổ thơ này chỉ ra quan điểm mà tôi vừa diễn đạt. Luôn xem bản thân mình thấp hơn người khác không nên được lầm hiểu thành việc chối bỏ bản thân, bỏ mặc những nhu cầu của bản thân hay cảm thấy mình là thứ vô vọng. Như tôi đã luận giảng trước đó, xuất phát từ một trạng thái tâm dũng mãnh mà quý vị có thể kết nối với người khác, nhận thức trọn vẹn khả năng mình có thể trợ giúp họ. Vì thế quý vị đừng ngộ nhận điểm này. Điều mà tôi muốn chỉ ra ở đây là quý vị cần có sự khiêm cung thật sự.

Tôi muốn kể cho quý vị một câu chuyện để minh họa điều này. Có một bậc hành giả vĩ đại sống cách chúng ta vài ba thế hệ, ngài tên là Dza Patrul Rinpoche. Ngài không chỉ là một bậc đại chứng ngộ mà còn có số lượng đồ chúng rất đông đảo. Ngài thường ban giảng giáo pháp cho hàng ngàn đệ tử. Nhưng là một thiền giả nên ngài thường biến mất trong những kỳ nhập thất ở nơi nọ nơi kia. Các học trò của ngài hay chạy tất tả đi tìm Thầy. Trong một kỳ hành hương, ngài trú ngụ vài ngày với một gia đình nọ, giống như nhiều người hành hương vẫn thường làm; Họ thường tìm nơi trú ngụ cùng với các gia đình Tạng trên đường đi hành hương và phụ họ làm việc này việc kia để đổi lấy bữa ăn. Vì vậy, Dza Patrul Rinpoche phụ giúp rất nhiều việc cho gia đình đó kể cả việc đổ bô cho bà mẹ già là việc ngài làm rất thường. Rốt cuộc một số đệ tử của ngài cũng đến được vùng đó và nghe ngóng được là Dza Patrul Rinpoche đang trú ngụ quanh đây. Một số tăng sĩ cuối cùng cũng đến được gia đình  này và hỏi người mẹ: “Bà có biết Dza Patrul Rinpoche ở đâu không?” Bà mẹ trả lời rằng: “Tôi nào biết Dza Patrul Rinpoche có ở đây!” Các tăng sĩ bấy giờ mới miêu tả dáng dấp của ngài cho bà nghe và nói thêm là: “Chúng tôi nghe nói ngài đang trú ngụ trong nhà bà như một người đang đi hành hương.” Bà cụ la lên: “Ồ, chính là Dza Patrul Rinpoche đó sao!” Ngay đúng lúc đấy, Dza Patrul Rinpoche đang đi đổ bô cho bà cụ. Bà quá hoảng sợ bèn bỏ chạy.

Điều mà câu chuyện này muốn nói là ngay cả một Lạt ma vĩ đại như Patrul Rinpoche, vị Thầy có hàng ngàn ngàn đệ tử, người thường ban pháp trên những pháp tòa cao vời với nhiều tăng chúng vây quanh, có đức khiêm cung đích thực. Ngài chẳng hề do dự khi phải làm một công việc như đổ bô cho bà cụ.

Có một số phương pháp cụ thể để quý vị có thể thực hành xem mình thấp hơn người. Lấy ví dụ đơn giản, tất cả chúng ta đều biết từ kinh nghiệm là khi tập trung vào một đối tượng hay cá nhân cụ thể, tùy theo góc nhìn, chúng ta sẽ có quan điểm khác biệt. Thực tế, đây là bản chất của tư duy. Những ý nghĩ có thể chọn lọc chỉ những đặc tính biệt lập của một đối tượng nào đó ở một thời điểm nào đó, tư duy con người không có khả năng nhìn nhận trọn vẹn toàn bộ một đối tượng. Bản chất của tư duy là có sự sàng lọc. Khi nhận ra điều này, quý vị có thể thấy mình thấp hơn chúng sinh khác từ một góc cạnh nào đó ngay cả trong lòng từ ái với một con côn trùng tí hon. Chẳng hạn tôi so mình với một con côn trùng. Tôi là đệ tử của Đức Phật và là một người được trang bị khả năng tư duy, giả định là có thể xét đoán được đúng sai. Tôi cũng có một số kiến thức về giáo pháp cơ bản của Phật giáo và về mặt lý thuyết, tôi cam kết thực hành các giáo pháp này. Tuy nhiên, khi nhận thấy khuynh hướng tiêu cực khởi sinh hoặc khi tạo tác những hành động không tốt xuất phát từ những động cơ đó, nếu xét trên quan điểm như vậy, có trường hợp tôi thấy mình thấp kém hơn một con côn trùng. Xét cho cùng, một con côn trùng không có khả năng phán xét đúng sai theo cách của con người, nó cũng chẳng có khả năng nghĩ ngợi xa xôi và không thể hiểu được những điều phức tạp trong các huấn thị tâm linh, vì thế từ quan điểm Phật giáo, bất kỳ điều gì con côn trùng tạo tác đều là kết quả của sự huân tập và của nghiệp. Khi so sánh, loài người có khả năng quyết định hành động của mình. Nên nếu chúng ta hành động tiêu cực thì có thể luận là ta còn thua cả con côn trùng! Vậy khi suy niệm theo góc độ này, có cơ sở thật để thấy mình thấp hơn các chúng sinh khác.

Thi kệ thứ ba viết rằng:

Quán tâm mình trong mọi hành xử
Vọng tưởng, phiền não vừa dấy khởi
Gây nguy hại cho mình và người
Nguyện tìm cách trừ diệt lập tức.

Bài kệ này chỉ ra rằng, dù tất cả chúng ta – những hành giả tâm linh, mong muốn chế ngự những tình cảm bốc đồng, những suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực nảy sinh từ nhiều thói quen cố hữu, nhiều khuynh hướng bất thiện cũng như do chưa đủ tinh tấn trong việc áp dụng các pháp đối trị để dẹp tan chúng, cho nên những cảm xúc và niệm tưởng đầy phiền não cứ mặc sức dấy khởi và khá cường liệt trong chúng ta. Trên thực tế, chúng mạnh đến mức chúng ta thường xuyên bị sai xử bởi các khuynh hướng bất thiện. Thi kệ này khuyên quý vị nên nhận thức điều này để luôn tỉnh táo. Phải thường xuyên kiểm soát bản thân và chú ý khi những khuynh hướng ác nổi lên. Nếu làm được như thế, quý vị sẽ không nhân nhượng với chúng. Quý vị có thể canh chừng liên tục và tránh xa những khuynh hướng đó. Bằng cách này, quý vị không gia lực cho chúng và sẽ tránh được sự bùng nổ những cảm xúc mạnh mẽ, những ngôn từ tiêu cực và hành vi do chúng thúc đẩy.

Song nhìn chung, điều này lại không như thế. Ngay cả khi nhận biết các cảm xúc phiền não rất tai hại song nếu chúng không quá căng thẳng thì quý vị hay tự nhủ: “Ồ, trường hợp này có lẽ chấp nhận được mà.” Quý vị có xu hướng xem nhẹ chúng. Vấn đề là càng huân tập với phiền não lâu chừng nào quý vị sẽ càng dễ để chúng tái diễn và càng dễ dàng nhượng bộ chúng. Điều này cho thấy cái tiêu cực sẽ lập đi lập lại. Vì vậy, giữ chánh niệm cực kỳ quan trọng, để bất cứ thời khắc nào khi những cảm xúc nhiễm ô phiền não trồi lên, quý vị có thể đối diện và ngăn chặn chúng ngay tức thì, như thi kệ đã kêu gọi chúng ta.

Hết sức quan trọng đặc biệt là đối với người tu theo Phật, phải thường xuyên kiểm tra lại mình trong đời sống hàng ngày, kiểm tra lại suy nghĩ, cảm xúc và thậm chí nếu có thể, ngay cả trong giấc mơ của mình. Khi thuần luyện chánh niệm tỉnh giác, dần dà quý vị sẽ có thể áp dụng chánh niệm thường xuyên ngày một nhiều hơn và chánh niệm sẽ trở thành một công cụ hiệu quả hơn.

Thi kệ kế tiếp viết:

Khi thấy chúng sinh bẩm tính ác
Bị tội khổ áp bức khốc liệt,
Như gặp được kho báu khó tìm
Con nguyện đem lòng yêu quý họ. 

Bài kệ này đề cập đến trường hợp đặc biệt khi có những người bị cách ly khỏi cộng đồng có thể do hành vi hoặc diện mạo của họ,  hoặc do sự nghèo túng hay bệnh tật nào đó. Bất kỳ ai thực hành tâm Bồ đề sẽ phải ưu ái đặc biệt những đối tượng như thế, như thể khi gặp gỡ họ, quý vị đã tìm thấy một kho báu thật sự. Thay vì họ cảm thấy bị khước từ, một hành giả chân chính với thực hành tâm vị tha độ lượng cần cam kết và nhận lấy thử thách để cảm thông với họ. Trên thực tế, cách quý vị tiếp xúc với những đối tượng này có thể giúp kiến tạo một lực đẩy lớn trong phát triển tâm linh.

Tôi rất vui mừng khi nghe nói rằng một số trung tâm Phật giáo đang bắt đầu áp dụng những phương châm xử thế của Phật giáo vào đời sống xã hội. Chẳng hạn tôi có nghe nói các trung tâm Phật giáo đã tổ chức hình thức giáo dục tâm linh nào đó trong các nhà giam để có thể thuyết giảng cũng như tư vấn. Tôi cho rằng đây là một điển hình tuyệt vời. Hiển nhiên là vô cùng bất hạnh khi con người, ở đây là các phạm nhân, bị xã hội khước từ. Không chỉ vô cùng đau khổ cho họ mà trên bình diện rộng hơn, đây cũng là sự tổn thất cho toàn xã hội. Chúng ta không dành cho họ cơ hội đóng góp tích cực cho cộng đồng trong khi họ thật có những tiềm năng thực hiện việc này. Chính vì thế, tôi cho rằng điều thật quan trọng đối với toàn thể cộng đồng là không khước từ những cá nhân này, hãy chào đón họ và công nhận những đóng góp tiềm năng mà họ có thể mang lại. Có như vậy các phạm nhân mới cảm tìm thấy nơi nương tựa trong cộng đồng xã hội và bắt đầu tin rằng họ cũng có gì đó để hiến tặng.

Thi kệ tiếp theo viết thế này:

Có chúng sinh do tâm ghen ghét
Phi lý chửi mắng, phỉ báng con
Xin nhận hết phần thua về mình
Nguyện dâng tặng chúng sinh phần thắng.

Điểm muốn gửi gắm ở đây là khi có người khiêu khích chọc tức quý vị mà chẳng có lý do gì hoặc do sự bất công ngang trái, thay vì phản ứng một cách tiêu cực, quý vị hãy nhẫn nhịn họ như một hành giả đang thực hành tâm vị tha độ lượng. Hãy giữ tâm bình thản trước những hành xử như vậy. Trong thi kệ kế tiếp, quý vị sẽ học được rằng chúng ta không chỉ nhẫn nhục với những người như thế mà còn phải xem họ như những bậc thầy tâm linh nữa.

Đối với người con từng trợ giúp
Hoặc người con đặt nhiều kỳ vọng
Bỗng dưng vô cớ hãm hại con
Nguyện xem họ như bạn lành Tôn Sư.

Trong tác phẩm Nhập Bồ Tát Hạnh của ngài Tịch Thiên, có một phần luận bàn trên phạm vi rộng về phương pháp phát triển tâm này như thế nào và làm sao có thể thực sự học được cách xem những người gây tổn hại cho mình như những bậc thầy tâm linh. Trong tác phẩm Nhập Trung Quán của ngài Nguyệt Xứng cũng thế, có những phần giáo huấn đầy ắp cảm hứng và công hiệu về phương pháp vun bồi phẩm tính khiêm nhường và nhẫn nhục.

Thi kệ thứ bảy tóm lược lại tất cả các thực hành đã luận bàn. Kệ này viết như sau:

Tóm lại dù trực tiếp hay gián tiếp
Dâng mọi lợi lạc lên mẫu thân
Những tổn hại khổ đau của Mẹ
Nguyện bí mật nhận hết về mình.

Thi kệ này thể hiện một pháp hành đặc biệt của Phật giáo gọi là “Pháp hành cho và nhận” hay còn gọi làTong-len. Bằng cách quán tưởng cho đi và nhận lại mà quý vị thực hành được pháp hoán chuyển vàbình đẳng ngã tha.

Pháp hành “Hoán chuyển và bình đẳng ngã tha” không nên hiểu theo nghĩa trực tiếp là biến mình thành người khác và biến người khác thành mình. Không làm như vậy được. Nghĩa ở đây phải được hiểu là sự đảo ngược thái độ mình thường có đối với bản thân và đối với người khác. Chúng ta thường có xu hướng xem cái gọi là “tôi” như phần cốt lõi quý giá nơi trung tâm của sự hiện hữu, một thứ gì đó thực sự xứng đáng chăm bẵm, đến mức chúng ta sẵn sàng bỏ mặc tất cả hạnh phúc của người khác. Thái độ của chúng ta đối với họ, thường là thờ ơ, cùng lắm chúng ta có thể có vài lưu tâm tới họ, nhưng ngay cả điều này cũng chỉ đơn giản ở mức độ cảm xúc và cảm nhận mà thôi. Nhìn chung, chúng ta hờ hững với hạnh phúc của người và chẳng bao giờ xem trọng. Vì vậy, điểm chú trọng của thực hành này là đảo ngược thái độ đó nhằm giảm thiểu cường độ của sự tham lam, bám luyến mà chúng ta dành cho bản thân và nỗ lực coi trọng hạnh phúc của người khác.

Khi tiếp cận các thực hành Phật giáo theo phương pháp này, có ý kiến cho rằng quý vị nên hứng chịu những hiểm họa và đau khổ cho bản thân, tôi cho rằng quý vị cần xem xét thận trọng điều này và hiểu rõ lời khuyên đó trong đúng ngữ cảnhlà cực kỳ hệ trọng. Điều ở đây thực sự muốn đề cập là: nếu trong quá trình thực hành con đường tu học tâm linh, quý vị đi đến hoàn cảnh phải gánh chịu những thử thách cam go hay kể cả khổ nạn thì hãy có sự chuẩn bị đầy đủ cho việc này. Huấn thị không ngụ ý nói rằng quý vị phải oán ghét hay bạc đãi bản thân, hoặc đâu đó phải mong muốn khổ nạn ập vào mình như nhục hình. Rất quan trọng khi quý vị hiểu rằng ý nghĩa điều này không phải như thế.

Một thí dụ khác mà quý vị không nên hiểu sai là một câu nói nổi tiếng của người Tạng: “Nguyện con có sự dũng mãnh khi cần để kinh qua a tăng tỳ kiếp, vô lượng kiếp bên trong tầng sâu nhất của địa ngục.” Điểm muốn chỉ ra ở đây là lòng quả cảm dũng mãnh của quý vị phải ở mức độ như thế, nếu quý vị cần góp một phần trong quá trình dấn thân vì lợi ích chúng hữu tình, quý vị phải có sự sẵn sàng và quyết tâm chấp nhận điều đó.

Hiểu đúng những phát biểu này cực kỳ hệ trọng, bởi vì khi hiểu sai, quý vị có thể sử dụng chúng để gia lực cho bất kỳ cảm xúc oán ghét bản thân, nghĩ rằng nếu cái ngã là hiện thân của vị kỷ thì phải ruồng bỏ bản thân vào quên lãng. Đừng quên rằng, cuối cùng thì những động lực đằng sau chí nguyện dấn thân vào con đường tu tập tâm linh là để chứng đắc hạnh phúc tối thượng, vì thế khi một cá nhân tìm cầu hạnh phúc cho bản thân là cũng đang tìm cầu hạnh phúc cho chúng sinh khác. Ngay cả trên bình diện thực tế, để một ai đó phát triển tâm từ ái chân thực đến những người khác, trước hết người đó phải có nền tảng  để vun bồi lòng từ ái và nền tảng đó chính là khả năng kết nối các cảm xúc riêng của mình và chăm sóc cho hạnh phúc của bản thân. Nếu không có khả năng thực hiện điều này, làm sao quý vị có thể kết nối với người khác và quan tâm đến họ? Chăm sóc người khác đòi hỏi quan tâm đến chính mình. Pháp hành Tong-len, cho đi và nhận lại, thâu tóm thực hành tâm từ ái và bi mẫn: thực hành cho đi chú trọng thực hành lòng từ ái trong khi thực hành nhận lại chú trọng vào thực hành tâm bi mẫn.

Ngài Tịch Thiên đưa ra một phương pháp thú vị về thực hành này trong bộ luận Nhập Bồ Tát Hạnh. Đó là sự quán tưởng giúp chúng ta nhận hiểu những khiếm khuyết của tâm vị kỷ và dạy chúng ta những phương cách đối trị nó. Một mặt quý vị quán tưởng cái ngã thường lệ của mình, cái ngã trơ cứng với hạnh phúc của chúng sinh khác và là hiện thân của sự ích kỷ. Đây chính là cái ngã chỉ biết lo toan cho lợi ích riêng mình, lo nhiều đến mức nó thường sẵn lòng tận dụng người khác một cách ngạo mạn để đạt được điều mình muốn.  Kế đến, một mặt khác, quý vị quán tưởng một nhóm các chúng sinh khác đang gặp khổ nạn mà không có ai che chở hay nương tựa. Quý vị có thể chú tâm vào những cá nhân cụ thể đó nếu muốn. Giả dụ, nếu muốn quán tưởng ai đó mà quý vị biết rõ và yêu thương và người đó đang gặp khổ nạn, quý vị có thể xem người đó là đối tượng cụ thể cho sự quán tưởng của mình và thực hành toàn bộ pháp hành cho đi, nhận lại đối với người ấy. Thứ ba, quý vị xem mình như một cá nhân trung lập hoặc là quan sát viên công minh đang nỗ lực đánh giá lợi ích của ai quan trọng hơn ở đây. Cô lập mình trong vị trí của người quan sát trung lập sẽ giúp cho quý vị dễ dàng nhìn nhận những hạn chế của tâm vị kỷ ái ngã và ngộ ra rằng sẽ công bằng và hợp lý hơn nhiều khi quan tâm đến hạnh phúc an vui của những chúng sinh khác.

Kết quả của quán tưởng này là quý vị sẽ từng bước bắt đầu cảm nhận mối đồng cảm với người khác và thấu cảm với đau khổ của họ. Tại thời điểm này, quý vị có thể khởi đầu thiền quán thật sự về cho và nhận.

Để thực hành thiền quán cho đi, thực hành một quán tưởng khác cũng rất lợi ích. Trước hết, quý vị chú tâm vào những chúng sinh đang gặp khổ nạn và cố gắng phát triển cũng như gia tăng lòng bi mẫn đối với họ, tới một điểm mà quý vị cảm thấy sự đau khổ của họ gần như không thể chịu đựng nổi. Tuy vậy cùng lúc, quý vị thấy mình thực tế không làm được gì nhiều để giúp đỡ họ cả.  Vì vậy với động cơ của lòng bi mẫn, để huấn luyện bản thân trở nên hiệu quả hơn, quý vị hãy quán tưởng mình gánh nhận hết những khổ đau của họ, những nguyên nhân gây ra khổ đau, những ý nghĩ và cảm xúc tiêu cực của họ v.v… Quý vị có thể thực hiện điều này bằng cách hình dung những khổ đau của họ và sự tiêu cực đó giống như một luồng khói đen, quý vị quán cho luồng khói đen đó hòa tan vào mình. Trong phạm vi của thực hành này, quý vị cũng có thể chia sẻ những thiện đức của mình với họ. Quý vị có thể nhớ lại những điều cao cả mình đã làm, bất kỳ tiềm năng tích cực nào ẩn chứa bên trong quý vị cũng như bất kỳ kiến thức tâm linh hay trí tuệ nội quán nào quý vị đã thành tựu. Hãy gửi gắm những thành quả ấy đến các chúng sinh khác để họ cũng cùng vui hưởng lợi ích. Quý vị có thể thực hiện điều này bằng cách mường tượng những phẩm hạnh của mình trong thểdạng ánh sáng chói lòa hoặc một luồng sáng màu trắng đi xuyên thấu qua các chúng sinh khác và thấm đẫm vào họ. Đây chính là thực hành quán tưởng cho đi và nhận lại.

Lẽ dĩ nhiên, loại thiền định này không mang lại lợi ích vật chất cụ thể cho chúng sinh vì nó ở dạng quán tưởng, nhưng thực hành có thể giúp tăng cường mối quan tâm của quý vị dành cho tha nhân và sự thấu cảm đối với khổ đau và cùng lúc giúp suy giảm bớt mãnh lực tâm vị kỷ trong chúng ta. Đây chính là những lợi ích của pháp hành này. Đây cũng là phương pháp thuần luyện tâm nhằm trưởng dưỡng chí nguyện giúp đỡ chúng sinh. Một khi chí nguyện này phát khởi cùng chí nguyện mong muốn chứng đắc giác ngộ viên mãn, quý vị thực chứng tâm Bồ đề, tâm nguyện từ bi muốn thành tựu sự toàn giác vì lợi ích của tất cả chúng sinh.

Thi kệ cuối cùng viết:

Tất cả nguyện trên cùng tám pháp
Không bị vọng tưởng làm ô nhiễm
Tâm biết các pháp như huyễn hóa
Nguyện giải thoát ràng buộc chấp trước.

Hai dòng dầu của bài kệ cực kỳ quan trọng đối với những hành giả chân chính. Tám bận tâm thế tục nhìn chung chính là những yếu tố khuynh đảo cuộc sống của chúng ta. Chúng khiến ta vui sướng khi được ngợi khen, trầm uất khi bị xúc phạm, hạnh phúc khi thành công, đau khổ khi thất bại, thấy sung sướng khi giàu sang, chán nản khi nghèo khó, thỏa mãn khi nổi danh và chán chường khi chẳng ai công nhận. Một hành giả chân chính phải xác quyết sự tu dưỡng tâm vị tha độ lượng không bị nhơ uế vì những bận tâm thế tục đó. Chẳng hạn khi đang giảng bài pháp này, nếu tôi chỉ cần có một chút tư tưởng thoáng qua hy vọng được người nghe ngưỡng mộ thì điều đó cho thấy động cơ giảng pháp của tôi đã bị nhiễm bẩn vì những suy tính trần tục, cái mà người Tây Tạng hay gọi là “tám mối bận tâm thế tục”. Rất quan trọng khi quý vị xét nét lại bản thân để chắc chắn mình không bị uế nhiễm như thế. Tương tự, một hành giả thực hành lý tưởng vị tha độ lượng trong đời sống hàng ngày, rồi thì ngay lập tức tám bận tâm thế tục đã làm uế nhiễm thực hành của người đó. Cũng tương tự như thế, nếu một hành giả nuôi hy vọng “mọi người sẽ ngưỡng mộ việc làm của ta”, trông mong nhận được những tán thán về những nỗ lực hành trì tinh tấn. Tất cả điều này chính là những tính toán danh vọng lợi dưỡng vốn sẽ phá hỏng sự tu tập của một hành giả. Đảm bảo những việc như thế này không xảy ra là rất quan trọng nhằm giúp quý vị duy trì sự thuần tịnh trong pháp hành.

Như quý vị đã thấy rồi đó, những chỉ dẫn trong giáo huấn lo-jong về chuyển tâm cực kỳ mạnh mẽ. Những chỉ dẫn buộc quý vị phải suy tư nghĩ ngợi. Ví dụ có một đoạn phát biểu như sau:

“Nguyện tôi luôn an vui khi bị coi khinh và chẳng hề hoan hỉ khi nghe lời tán thán. Nếu tôi thấy vui vì được khen thì lập tức tâm kiêu căng, ngạo mạn và đố kỵ sẽ nảy nở thêm trong tôi; Trong khi nếu tôi vui khi nghe lời chê bai thì chí ít nhờ đó tôi mới biết  khiếm khuyết của mình.”

Một quan điểm hết sức mạnh mẽ!

Ngang đây, chúng ta đã luận bàn về tất cả pháp hành liên quan đến sự trưởng dưỡng “tâm Bồ đề tương đối”, chí nguyện từ bi mong muốn thành tựu giác ngộ viên mãn để độ sinh. Giờ đây, hai dòng cuối cùng của tám thi kệ đề cập đến thực hành tu dưỡng tâm Bồ đề Cứu cánh, ngụ ý sự phát triển một nội quán về bản chất rốt ráo của hiện thực. Mặc dù phát triển trí tuệ là một phần của lý tưởng Bồ tát, hiện thân trong sáu hạnh ba la mật toàn hảo, như đã đề cập trước đó, nhìn chung có hai điểm tinh yếu trên đường tu, đó là phương tiện và trí tuệ. Cả hai đều nằm trong định nghĩa về sự giác ngộ, tức là tính bất nhị của hình thức toàn hảo và trí tuệ toàn hảo. Thực hành trí tuệ hay nội quán tương quan với sự toàn hảo của trí tuệ trong khi thực hành những phương tiện thiện xảo hay phương pháp tương quan với sự toàn hảo của hình thức.

Giáo pháp Đức Phật thường được thể hiện trong một khuôn khổ chung thường gọi là Căn Đạo Quả . Trước tiên quý vị trau dồi tri kiến về bản thể của hiện thực với hai mức độ hiên thực, đó là sự thật tương đối và sự thật tuyệt đối (nd: Tục đế và chân đế), đây chính là nền tảng.  Tiếp theo, trên đường tu thực sự, quý vị dần từng bước phối hợp thực hành thiền định và thực hành tâm linh như một khối phương tiện và trí tuệ. Quả tu cuối cùng của đường tu chính là tính bất nhị giữa hình thức toàn hảo và trí tuệ toàn hảo.

Hai dòng kệ cuối cùng viết:

Tâm biết các pháp như huyễn hóa,
Nguyện giải thoát ràng buộc chấp trước.

Hai câu thơ này thực chỉ ra pháp hành trưởng dưỡng nội quán về bản chất của hiện thực, song nếu nhìn thoáng trên bề mặt, dường như những câu thơ này biểu hiện cách thức người tu liên kết với đời sống bên ngoài trong giai đoạn xả thiền. Giáo lý nhà Phật giảng giải về bản chất rốt ráo của hiện thực, có hai thời quan trọng được phân định: Một là thời tọa thiền, thời gian quý vị giữ tâm không loạn động và hai là thời xả thiền, thời gian quý vị quay về đời sống thiện thực. Vì thế ở đây, hai dòng thơ này liên đới trực tiếp với cách người tu kết nối với thế giới ngoài kia trong thời xả thiền. Đó là lý do vì sao đoạn thơ đề cập đến thực tại như huyễn, bởi vì đây là phương cách mà quý vị phải cảm nhận sự vật khi kết thúc thời thiền.

Theo suy luận của tôi, hai câu thơ này đưa ra một điểm hết sức trọng yếu, vì đôi khi người ta cứ nghĩ trong thời thiền thì điều quan trọng nhất là duy trì  sự nhất tâm. Họ ít quan tâm để ý đến việc làm sao kinh nghiệm này có thể áp dụng trong những lúc xả thiền. Tôi lại cho rằng thời gian xả thiền rất quan trọng. Toàn bộ cốt yếu của thiền quán về bản chất rốt ráo của hiện thực là để đảm bảo quý vị không bị cảnh hiện dối gạt và nhận thức sự khác biệt giữa cách mà sự vật trình hiện và thực tướng của chúng. Phật giáo luận giải rằng cảnh hiện thường là huyễn. Với sự lĩnh hội sâu sắc hơn về hiện thực, quý vị có thể vượt qua cảnh hiện và nhìn nhận vạn vật theo cách nhìn chính xác, hiệu quả và thực tế hơn.

Tôi thường đưa ra ví dụ về cách chúng ta liên hệ với người hàng xóm. Hãy tưởng tượng quý vị đang sống trong một khu vực nào đó ở một thành phố mà quý vị gần như không thể giao tiếp gì được với hàng xóm của mình, tuy thế nếu quý vị có thể giao lưu với họ đượcthì vẫn tốt hơn là phớt lờ họ đi. Thực hiện điều này một cách khôn ngoan sẽ phụ thuộc vào quý vị hiểu tính cách của người hàng xóm đến cỡ nào. Giả dụ, nếu người hàng xóm bên cạnh nhà rất tháo vát thì giao tiếp và thân thiện với anh ta sẽ mang lại lợi ích cho quý vị.  Đồng thời, khi tìm hiểu kỹ lưỡng, quý vị cũng nhận thấy người hàng xóm này có bản chất khá xảo trá thì sự hiểu đó trở nên rất quý giá nếu quý vị vừa duy trì được quan hệ thân thiện mà cũng vừa cảnh giác để không bị lợi dụng. Ngoài ra, một khi quý vị có tri kiến sâu xa về bản chất của hiện thực thì trong thời xả thiền, khi sống trong thế giới thực tại, quý vị sẽ liên hệ với con người và sự vật một cách đúng đắn và thực tế hơn.

TÁM THI KỆ CHUYỂN TÂM(1)
Tác giả: Langri Thangpa

 

Ý nguyện thành tựu lợi tối thắng
Với con, tất cả loài hữu tình
Còn hơn cả Bảo Châu Như Ý
Nguyện thường luôn giữ gìn lòng ái trọng.
Khi kết thân với bất kỳ ai
Xem chính con thấp hơn tất cả
Tận đáy lòng xin tôn kính người
Nguyện hành trì tôn kính thương yêu.
Quán tâm mình trong mọi hành xử
Vọng tưởng, phiền não vừa dấy khởi
Gây nguy hại cho mình và người
Nguyện tìm cách trừ diệt lập tức.
Khi thấy chúng sinh bẩm tính ác
Bị tội khổ áp bức khốc liệt,
Như gặp được kho báu khó tìm
Con nguyện đem lòng yêu quý họ.
Có chúng sinh do tâm ghen ghét
Phi lý chửi mắng, phỉ báng con
Xin nhận hết phần thua về mình
Nguyện dâng tặng chúng sinh phần thắng.
Đối với người con từng trợ giúp
Hoặc người con đặt nhiều kỳ vọng
Bỗng dưng vô cớ hãm hại con
Nguyện xem họ như bạn lành Tôn Sư.
Tóm lại dù trực tiếp hay gián tiếp
Dâng mọi lợi lạc lên mẫu thân
Những tổn hại khổ đau của Mẹ
Nguyện bí mật nhận hết về mình.
Tất cả nguyện trên cùng tám pháp
Không bị vọng tưởng làm ô nhiễm.
Tâm biết các pháp như huyễn hóa
Nguyện giải thoát ràng buộc chấp trước.
Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV Chân Như chuyển Việt ng

_______________________________________

(1): Việt dịch theo bản dịch từ Tạng ngữ của Nhật Hạnh – Tenzin Yangchen
Bài giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 về Tám Thi Kệ Chuyển Tâm do đại hành giả Langri Thangpa trước tác. Bản dịch này được trích dịch từ tác phẩm The Dalai Lama’s Book of Transformation (Sách Chuyển Tâm của Đức Đạt Lai Lạt Ma).

BÌNH LUẬN CỦA BẠN

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Hình Ảnh